banner
Thứ 7, ngày 13 tháng 7 năm 2024
Quan điểm Hồ Chí Minh về các điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc
21-6-2024
Thực hiện chính sách dân tộc là quá trình đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc, bài viết làm rõ các điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc theo quan điểm Hồ Chí Minh.
 

Bác Hồ chụp ảnh lưu niệm với đại biểu thiếu nhi và phụ nữ các dân tộc tỉnh Lào Cai ngày 23/9/1958. (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
 
Xuất phát từ tình yêu thương vô hạn đối với nhân dân và sự gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc thiểu số (DTTS), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tư duy, tầm nhìn bao quát trong xử lý vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc ở một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam. Người rất coi trọng và thường xuyên nhắc nhở Đảng, Chính phủ quan tâm đến việc ban hành và tổ chức thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm phát triển toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; thực hiện đoàn kết dân tộc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, xây dựng và củng cố mối quan hệ giữa các dân tộc ngày càng bền chặt, tạo nên sức mạnh tổng hợp, to lớn cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam xây dựng nước độc lập, thống nhất.
 
Thực hiện chính sách dân tộc là quá trình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, đến với người dân để chủ trương của Đảng, mong muốn của người dân được cụ thể hóa thành lợi ích vật chất xã hội(1). Quá trình triển khai những chủ trương, định hướng của Đảng về vấn đề dân tộc vào đời sống xã hội, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế và quốc phòng, an ninh, nhằm hiện thực hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc và phù hợp với những định hướng trong hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Theo Hồ Chí Minh, điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dân tộc, bao gồm:
 
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước cần có các chính sách đặc thù, phù hợp, ưu tiên, tương trợ, giúp đỡ phát triển vùng DTTS
 
Theo Hồ Chí Minh, để phát triển vùng DTTS thì trách nhiệm quan trọng thuộc về Đảng, Nhà nước. Người cho rằng, Đảng, Nhà nước phải có biện pháp ưu tiên, chăm lo bồi dưỡng đồng bào DTTS, chú ý đến đồng bào vùng cao và giúp đồng bào nhiều hơn nữa, có như vậy mới thực hiện tốt vấn đề dân tộc. Người yêu cầu: “các cơ quan trung ương phải có kế hoạch đẩy mạnh phong trào miền núi lên, về kinh tế cũng như về văn hóa, tất cả các mặt”(2). Đồng thời, trong quá trình tổ chức thực hiện phải làm dần từng bước, thiết thực, cụ thể, hiệu quả, làm bước nào chắc bước ấy. Người nhắc nhở: “Trung ương Đảng và Chính phủ, mà trực tiếp là các cấp ủy đảng, các ủy ban địa phương, các cô, các chú, phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc”(3). Như vậy, việc “săn sóc, giúp đỡ nhiều hơn nữa đối với đồng bào rẻo cao về mọi mặt”(4) là trách nhiệm của các tổ chức đảng và chính quyền các cấp.
 
Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt chính sách dân tộc, đoàn kết dân tộc cần am hiểu về đặc điểm vùng dân tộc, về đồng bào DTTS, bởi mỗi DTTS đều có bản sắc, nếp sống, tâm lý, tiếng nói riêng rất đa dạng và phong phú. Đối với vùng DTTS, việc đề ra biện pháp, tìm ra bước đi thích hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết, quyết định đến sự thành công của chính sách dân tộc. Vì vậy, các chính sách được ban hành phải chứa đựng những nội dung, biện pháp và bước đi thích hợp, phù hợp với đặc trưng, điều kiện của vùng và đồng bào DTTS, trong đó hết sức tôn trọng lợi ích, văn hóa, truyền thống, tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán v.v.. của đồng bào.
 
Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh: “Miền núi đất rộng người thưa, tình hình vùng này không giống tình hình vùng khác. Vì vậy, áp dụng chủ trương và chính sách phải thật sát với tình hình thực tế của mỗi nơi. Tuyệt đối chớ rập khuôn, chớ máy móc, chớ nóng vội”(5). Người chỉ rõ, các chương trình, kế hoạch công tác phát triển vùng dân tộc không những phù hợp với đồng bào các DTTS, mà ngay cả cách thể hiện cũng được diễn tả để đồng bào dễ hiểu, dễ làm theo. Người dạy: “nếu cứ nói nào là làm “cách mạng xã hội chủ nghĩa”, nào là “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, nào là “xây dựng chủ nghĩa xã hội”, đồng bào các dân tộc thiểu số khó hiểu, ít người hiểu. Phải nói rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội là làm cái gì? Nói nôm na để cho người ta dễ hiểu, hiểu để người ta làm được”(6).
 
Đồng thời, cán bộ thực hiện công tác dân tộc phải thấy rõ: “Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo, thì tuyên truyền huấn luyện đối với đồng bào Thái khác, đồng bào Mèo khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp. Bởi vì đời sống, trình độ đồng bào Mèo và Thái khác nhau, cho nên tuyên truyền huấn luyện phải khác”(7).
 
Khi xác định trách nhiệm của các tổ chức đảng và chính quyền các cấp đối với sự phát triển của vùng dân tộc và đồng bào các dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp, mà trực tiếp là cán bộ các địa phương, đồng thời xác định trách nhiệm của các ngành, các cấp, các địa phương và mỗi người dân. Người cho rằng, cán bộ làm công tác dân tộc, đặc biệt là những người làm ở vùng núi, vùng đồng bào DTTS phải am hiểu ngôn ngữ, phong tục tập quán, nắm bắt tâm lý, tâm tư nguyện vọng của đồng bào, do đó: “Cán bộ đi làm việc chỗ nào, phải học tiếng ở đấy”(8), và phải thật sự trọng dân, hiểu dân, gần dân, có trách nhiệm với dân.